Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và vấn đề xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm
15:1' 29/5/2009
"... Quan hệ bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng được hình thành từ hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH). Hoạt động cung ứng này dựa vào nhu cầu chuyển giao rủi ro từ người mua bảo hiểm sang DNBH. Để gánh chịu tổn thất thay cho bên mua bảo hiểm, DNBH phải có khả năng tài chính đủ mạnh để chi trả cho bên mua bảo hiểm theo cam kết. Trên thực tế, khả năng tài chính này không thể tự bản thân DNBH có được mà phải dựa trên cơ sở đóng góp mang tính cộng đồng của những người tham gia bảo hiểm..."

1. Cơ sở lý luận của quy định về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm

Quan hệ bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng được hình thành từ hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH). Hoạt động cung ứng này dựa vào nhu cầu chuyển giao rủi ro từ người mua bảo hiểm sang DNBH. Để gánh chịu tổn thất thay cho bên mua bảo hiểm, DNBH phải có khả năng tài chính đủ mạnh để chi trả cho bên mua bảo hiểm theo cam kết. Trên thực tế, khả năng tài chính này không thể tự bản thân DNBH có được mà phải dựa trên cơ sở đóng góp mang tính cộng đồng của những người tham gia bảo hiểm. Bởi vì, sẽ là vô lý, khi một chủ thể kinh doanh phải gánh chịu tổn thất cho người khác bằng chính khoản tiền thuộc sở hữu của mình. Chính vì lẽ đó, khi yêu cầu DNBH cấp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải trả những khoản phí nhất định để DNBH sử dụng khoản tiền này duy trì được hoạt động kinh doanh của mình.

Cơ sở để hình thành nên quy định về trách nhiệm đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm dựa vào hai lý do sau:

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, để thực hiện được hoạt động kinh doanh bảo hiểm, DNBH phải bỏ ra những chi phí nhất định. Các chi phí này bao gồm hai phần cơ bản đó là khoản tiền mà DNBH phải chi trả cho bên mua bảo hiểm khi họ thuộc trường hợp bảo hiểm và khoản tiền mà DNBH phải bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh như chi phí ký kết hợp đồng, chi phí quản lý, thuế nộp cho ngân sách nhà nước... Để bù đắp những chi phí mà mình bỏ ra cũng như đảm bảo yếu tố lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của mình, khi tiến hành cấp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, DNBH được quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm nộp cho họ phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm chính là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả cho việc nhận cung ứng dịch vụ bảo hiểm từ DNBH, hay nói một cách khác, phí bảo hiểm là giá cả của sản phẩm bảo hiểm.

Về nguyên tắc, phí bảo hiểm phải đủ để:

- DNBH thực hiện cam kết bồi thường cho các khiếu nại dự kiến phát sinh trong thời gian bảo hiểm. DNBH chỉ có thể ước tính số tiền khiếu nại trong kỳ, chứ không thể tính toán được chính xác số tiền sẽ phải bồi thường. Tuy nhiên, bởi vì có nhiều người tham gia bảo hiểm nên DNBH có thể dự kiến được số tiền có thể phải bồi thường dựa vào xác suất rủi ro đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm.

- Dự trữ một khoản tiền nhất định để thanh toán các khiếu nại còn tồn đọng (là những khiếu nại đã phát sinh nhưng chưa giải quyết). Sở dĩ, DNBH phải tính toán đến điều này vì không phải tất cả các khiếu nại đều có thể được thanh toán dứt điểm ngay, vì vậy, phí bảo hiểm cũng phải tính toán đến yếu tố này.

- Trích lập quỹ dự phòng tổn thất lớn, là những tổn thất nghiêm trọng vượt quá khả năng kiểm soát của DNBH, chẳng hạn như các tổn thất do thiên tai, dịch bệnh...

- Trang trải các chi phí quản lý như tiền lương, tiền thuê trụ sở, tiền văn phòng phẩm, chi phí quảng cáo, hoa hồng và các khoản chi phí khác.

- Thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như nộp thuế, phí, lệ phí...

- Đảm bảo mức lãi hợp lý.[1]

Như vậy, xét về phương diện kinh tế, việc DNBH thu phí bảo hiểm để đảm bảo cung ứng dịch vụ bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm là hoàn toàn hợp lý. Phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đóng không những được sử dụng để chi trả bảo hiểm mà còn giúp cho DNBH duy trì được hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo cung ứng sản phẩm bảo hiểm cho xã hội.

Thứ hai, về phương diện pháp lý, khi tham gia vào một giao dịch dân sự, các bên đều hướng đến những lợi ích nhất định. Để được hưởng lợi ích, các bên phải thực hiện nghĩa vụ. Nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật dân sự được hiểu là một bộ phận không tách rời trong nội dung của một quan hệ pháp luật dân sự. Nghĩa vụ là những hành vi mà một bên chủ thể phải thực hiện vì lợi ích của bên kia.[2] Việc bên mua bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm cho DNBH trong quan hệ bảo hiểm tài sản phát sinh từ nghĩa vụ dân sự trong giao dịch dân sự. Cụ thể, để nhận được cam kết chi trả từ phía DNBH trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm. Hay nói một cách khác, để được hưởng lợi ích bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ. Nghĩa vụ này phát sinh từ việc, bên mua bảo hiểm được quyền nhận tiền bồi thường từ DNBH khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Hơn nữa, nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm còn gắn liền với lợi ích của DNBH. Cụ thể, từ khoản phí bảo hiểm thu được, DNBH sử dụng để trang trải chi phí kinh doanh và đảm bảo lợi nhuận cho mình. Ngoài ra, còn phải kể đến, trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, trách nhiệm bảo hiểm của DNBH phụ thuộc vào mức phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đóng. Vì vậy, pháp luật phải có những quy định cụ thể về trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong từng trường hợp.

2. Quy định của pháp luật về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

Như đã trình bày, phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả cho DNBH để hình thành nên quỹ bảo hiểm. Nếu quỹ bảo hiểm chưa thiết lập, DNBH không thể bồi thường cho bên mua bảo hiểm, do vậy, nếu bên mua bảo hiểm chưa đóng phí bảo hiểm thì trách nhiệm bồi thường của DNBH cũng chưa thể phát sinh.

Điều 15 Luật Kinh doanh bảo hiểm (LKDBH) quy định: “Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng DNBH đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm”. Quy định trên đã thể hiện rõ, để được nhận tiền bồi thường, bên mua bảo hiểm đã phải đóng phí cho DNBH (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về gia hạn đóng phí). Tức là bên mua bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ đóng phí trước mới được quyền nhận tiền bồi thường. Quy định trên của LKDBH là hoàn toàn phù hợp với bản chất của quan hệ bảo hiểm, đó là quỹ chi trả bảo hiểm được tạo lập từ phí bảo hiểm. Nếu bên mua bảo hiểm chưa đóng phí, có nghĩa rằng, sự đóng góp của họ vào quỹ bảo hiểm chưa có, do vậy không có cơ sở để được nhận tiền bồi thường bảo hiểm từ quỹ này. Hơn nữa, nếu xét từ góc độ pháp lý, nếu người mua bảo hiểm yêu cầu DNBH cung ứng dịch vụ cho mình nhưng lại chưa trả tiền cho việc cung ứng dịch vụ đó thì chưa thể hiện ý chí tiếp nhận dịch vụ. Nếu LKDBH chỉ quy định về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm như vậy thì không có gì đáng bàn. Tuy nhiên, khi nghiên cứu Điều 14 và vế trước của Điều 15, chúng ta thấy sự mập mờ của quy định trên thể hiện rất rõ và đây là nguyên nhân chính dẫn đến những tranh chấp về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm trên thực tế.

Điều 14 LKDBH quy định: “Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm...”, và Điều 15 LKDBH quy định: “Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí...”. Hai điều luật trên cho thấy, pháp luật chưa có sự phân định rõ giữa thời điểm giao kết hợp đồng và thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Cụ thể, theo quy định trên, thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm DNBH đồng ý bảo hiểm (thể hiện qua việc cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm). Nhưng đồng ý bảo hiểm khác hoàn toàn với việc phát sinh trách nhiệm bảo hiểm. Cụ thể, đồng ý bảo hiểm trong bảo hiểm thể hiện DNBH có đủ điều kiện để cấp bảo hiểm, tuy nhiên nếu DNBH đồng ý bảo hiểm nhưng bên mua bảo hiểm chưa đóng phí thì không thể phát sinh trách nhiệm của DNBH được. Sở dĩ, chúng tôi lập luận như trên bởi vì, hợp đồng bảo hiểm chỉ được coi là có hiệu lực pháp lý khi nó thể hiện ý chí tham gia vào hợp đồng của cả hai bên. Nếu bên mua bảo hiểm chưa đóng phí thì điều đó có nghĩa là bên mua bảo hiểm chưa thể hiện ý chí tham gia hợp đồng. Hơn nữa, bản chất kinh tế của phí bảo hiểm là khoản tiền mà người mua bảo hiểm đóng góp vào quỹ bảo hiểm để DNBH chi trả bảo hiểm, do vậy, nếu người mua bảo hiểm chưa đóng phí, thì không có cơ sở kinh tế để DNBH bồi thường. Còn xét ở góc độ pháp lý, khi người mua bảo hiểm chưa thực hiện nghĩa vụ thì cũng không thể được hưởng quyền. Như vậy, có thể khẳng định, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm là thời điểm DNBH chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm.

Quy định về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm của Trung Quốc cũng gần giống với quy định của Việt Nam, tuy nhiên, có điểm khác biệt là pháp luật bảo hiểm Trung Quốc quy định rất cụ thể về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Cụ thể, tại Điều 13 Luật Kinh doanh bảo hiểm của nước này quy định: “Sau khi hợp đồng bảo hiểm được xác lập, người yêu cầu bảo hiểm sẽ trả phí bảo hiểm theo các điều kiện và điều khoản của hợp đồng và người bảo hiểm sẽ chịu rủi ro kể từ ngày ghi trên hợp đồng bảo hiểm”. Quy định trên cho thấy, pháp luật bảo hiểm Trung Quốc thừa nhận, hợp đồng bảo hiểm phát sinh hiệu lực pháp lý khi ý chí của hai bên đã được thể hiện, đó là phí bảo hiểm đã được đóng và DNBH đã đồng ý chấp nhận bảo hiểm. Như vậy, nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm có thể không phải thực hiện ngay khi giao kết hợp đồng, nhưng thời điểm xác định hiệu lực pháp lý của hợp đồng là từ thời điểm đóng phí. Khác với quy định của pháp luật Việt Nam, hiệu lực pháp lý của hợp đồng căn cứ vào ngày giao kết hợp đồng, còn Luật Bảo hiểm Trung Quốc quy định, hiệu lực pháp lý của hợp đồng được xác định căn cứ vào ngày ghi trên hợp đồng. Với quy định trên của Luật Bảo hiểm Trung quốc có thể hiểu, khi tiến hành giao kết hợp đồng, DNBH có thể ấn định một thời gian để bên mua bảo hiểm đóng phí (bằng việc xác định trên hợp đồng thời điểm mà DNBH chấp nhận rủi ro), nếu quá thời gian này mà bên mua bảo hiểm chưa đóng phí, có nghĩa hợp đồng chưa tồn tại. Theo tác giả, cách quy định của Luật Bảo hiểm Trung Quốc là cụ thể và khá chặt chẽ, hạn chế được những tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ đóng phí của bên mua bảo hiểm.

3. Kiến nghị

Việc xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH đóng vai trò hết sức quan trọng. Đây chính là mốc thời gian mà DNBH phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường bảo hiểm nếu có rủi ro xảy ra. Tuy nhiên, quy định về vấn đề này của pháp luật vẫn còn nhiều điểm bất cập, không thống nhất dẫn đến tranh chấp xảy ra trên thực tế khá nhiều và việc vận dụng quy định của pháp luật về lĩnh vực này để giải quyết tranh chấp hiện rất phức tạp, gây nhiều tranh cãi.

Các quy định tại Điều 14 và 15 LKDBH cho phép hiểu là pháp luật thừa nhận thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm rơi vào một trong hai trường hợp: thứ nhất khi hợp đồng bảo hiểm được giao kết và thứ hai khi có bằng chứng DNBH đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm. Vấn đề đặt ra là, vậy lúc nào thì hợp đồng bảo hiểm được coi là đã giao kết? Quy định tại Điều 14 có thể dẫn đến cách hiểu rằng thời điểm này chính là thời điểm DNBH cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm. Tuy nhiên, hiểu như vậy là không chính xác, vì Điều 14 chỉ quy định về hình thức của hợp đồng bảo hiểm chứ không quy định thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của hợp đồng bảo hiểm. Quy định tại Điều 14 là phù hợp với đặc trưng của quan hệ bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng, bởi vì hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng mẫu do DNBH thiết kế, nội dung của hợp đồng này còn phụ thuộc vào các quy tắc và điều khoản bảo hiểm cho loại hình sản phẩm bảo hiểm đó. Chính vì vậy, một hợp đồng bảo hiểm hoàn chỉnh sẽ căn cứ vào điều khoản mà các bên thỏa thuận cũng như quy tắc, điều khoản bảo hiểm mà DNBH đưa ra. Để mang tính đơn giản hóa, DNBH sẽ không đính kèm bộ quy tắc, điều khoản vào hợp đồng mà chỉ tiến hành cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm và đây được coi là bằng chứng giao kết hợp đồng. Về bản chất, giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm chỉ là sự xác nhận việc DNBH đồng ý bảo hiểm chứ không phải là cơ sở để xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm. Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là vì quan hệ bảo hiểm là quan hệ chuyển giao rủi ro, để thừa nhận việc gánh chịu rủi ro thay cho bên mua bảo hiểm, DNBH phải đưa ra những cam kết chi trả về tài chính. Giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng chấp nhận giao kết hợp đồng mà không đồng nghĩa với việc là bằng chứng của việc cam kết bồi thường kể từ thời điểm cấp giấy chứng nhận. Nghĩa vụ bồi thường của DNBH chỉ phát sinh khi bên mua bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm.

Như vậy, thời điểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm chỉ là thời điểm mà DNBH thể hiện sự đồng ý cấp bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm chứ không thể coi là thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH được. Hành vi giao kết hợp đồng mới chỉ thể hiện sự đồng thuận về mặt hình thức, tức là thể hiện việc bên mua bảo hiểm yêu cầu DNBH chấp nhận bảo hiểm và DNBH đồng ý chấp nhận bảo hiểm. Tuy nhiên, trong bảo hiểm, không thể cho rằng, khi hai bên đã ký vào hợp đồng thì đương nhiên phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH được vì lý do, yếu tố mà cả hai bên hướng đến để giao kết hợp đồng là rủi ro. Bảo hiểm là sự chia sẻ rủi ro mang tính cộng đồng. Để gánh chịu rủi ro thay cho người mua bảo hiểm, DNBH phải tạo lập quỹ bảo hiểm từ phí bảo hiểm của những người tham gia bảo hiểm. Về nguyên tắc, bên mua bảo hiểm chỉ được bồi thường bảo hiểm khi họ đã phải đóng phí, tức họ đã phải đóng góp tài chính vào quỹ bảo hiểm thì mới được hưởng sự chia sẻ này. Chính vì vậy, thời điểm hợp đồng bảo hiểm được giao kết là thời điểm các bên ghi nhận sẽ tham gia hợp đồng, tuy nhiên hợp đồng phải thể hiện ý chí của đôi bên nên nếu DNBH đã cấp giấy chứng nhận bảo hiểm nhưng bên mua bảo hiểm chưa tiến hành đóng phí thì cũng chưa thể hiện ý chí tham gia hợp đồng của bên mua bảo hiểm (nếu không có thỏa thuận về gia hạn đóng phí) do vậy chưa thể coi đây là thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của hợp đồng.

Như vậy, quy định tại vế đầu của Điều 15 LKDBH, “Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết”, là không phù hợp với bản chất của quan hệ bảo hiểm. Chúng ta không thể đánh đồng giữa thời điểm giao kết hợp đồng với thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH. Vì vậy, chúng tôi đề nghị bỏ phần quy định này của Điều 15 để tránh gây nhầm lẫn và cho rằng, trách nhiệm bảo hiểm của DNBH phát sinh kể từ thời điểm giao kết hợp đồng. Còn quy định như hiện tại có thể dẫn đến hệ quả, bên mua bảo hiểm chỉ cần yêu cầu bảo hiểm mà không đóng phí để nếu họ gặp rủi ro thì mới đóng phí và yêu cầu DNBH bồi thường, nếu không có rủi ro xảy ra họ sẽ không tiến hành đóng phí bảo hiểm. Để tránh những tranh chấp liên quan đến việc xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH, pháp luật cần có quy định rõ trách nhiệm bảo hiểm của DNBH chỉ phát sinh khi có bằng chứng DNBH đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận về gia hạn đóng phí.

Một vấn đề cần phải lưu ý, đó là, hiện nay pháp luật bảo hiểm chưa hề có quy định về chế tài áp dụng đối với bên mua bảo hiểm trong trường hợp không đóng phí bảo hiểm. Khi một người đã yêu cầu DNBH chấp nhận rủi ro thay cho mình thì họ phải có trách nhiệm với đề nghị này. Bởi vì, trước đề nghị bảo hiểm của bên mua bảo hiểm, DNBH phải dự kiến số tiền bồi thường nếu có rủi ro xảy ra, họ phải mất chi phí để tính toán về phí bảo hiểm cũng như các chi phí để hình thành nên hợp đồng. Việc bên mua bảo hiểm đề nghị bảo hiểm và đã tiến hành giao kết hợp đồng nhưng sau đó không đóng phí thể hiện sự vô trách nhiệm trước lời đề nghị của mình. Vì vậy, để tránh tình trạng, DNBH phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định mà không thu được phí bảo hiểm và nhằm ngăn ngừa việc bên mua bảo hiểm đã tiến hành giao kết hợp đồng mà không chịu đóng phí, pháp luật nên quy định cụ thể hình thức chế tài áp dụng đối với người mua bảo hiểm khi họ không đóng phí bảo hiểm. Khoản 2 Điều 24 LKDBH [3] đã bảo vệ quyền được thu phí bảo hiểm của DNBH nhưng chưa có điều khoản chế tài về sự vi phạm nghĩa vụ đóng phí của bên mua bảo hiểm, vì vậy, thực tiễn áp dụng đã nảy sinh hai quan điểm trái ngược nhau:

Quan điểm thứ nhất: Chấp nhận thu phí bảo hiểm là chấp nhận hồi tố hiệu lực của Giấy chứng nhận bảo hiểm. Quan điểm này mâu thuẫn với quy định tại Điều 15 LKDBH và các quy định trong các quy tắc bảo hiểm.[4]

Quan điểm thứ hai: DNBH có quyền thu phí theo khoản 2 Điều 24 mà vẫn thoát khỏi trách nhiệm bồi thường những tổn thất trong thời hạn bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm.

Cả hai quan điểm trên nếu áp dụng vào thực tế đều không khả thi và không đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ bảo hiểm. Chính vì vậy, pháp luật cần phải quy định:

- Thứ nhất, xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH là thời điểm bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận về gia hạn đóng phí.

- Thứ hai, sau khi giao kết hợp đồng, nếu bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm như đã thỏa thuận thì phải bồi thường những thiệt hại phát sinh cho DNBH do hành vi này gây ra.

NGUYỄN THỊ THỦY- ThS. luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nguồn:
TẠP CHÍ KHPL SỐ 5(42)/2007


[1] Xem Giáo trình đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ (lưu hành nội bộ), Nxb. Tài chính, 2004, tr. 20

[2] Xem Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb. Công an nhân dân, 2006, tr.6

[3] Khoản 2 Điều 24 LKDBH quy định: trong trường hợp bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng, DNBH có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm và bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm.

[4] Theo quy tắc bảo hiểm vật chất như bảo hiểm xe cơ giới, tài sản, tàu thuyền của Bảo Việt, Bảo Long, Bảo Minh, PTI, Fjico... đều quy định: Giấy chứng nhận bảo hiểm mặc nhiên mất hiệu lực nếu người được bảo hiểm chưa đóng phí đầy đủ và đúng hạn.

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất