Về quá trình thảo luận và xây dựng luật hợp đồng châu Âu
20:16' 6/9/2008
Với Thông báo tới Nghị viện Châu Âu (European Parliament) và Hội đồng Liên minh Châu Âu (Council) ngày 11/7/2001 về luật hợp đồng Châu Âu[1], Ủy ban Châu Âu (European Commission) đã khởi xướng một quá trình thảo luận về cách thức giải quyết trên bình diện Liên minh các vấn đề phát sinh từ sự khác biệt trong luật hợp đồng của các quốc gia thành viên. Trên cơ sở ý kiến ủng hộ từ nhiều phía, tháng 2/2003 Ủy ban Châu Âu (sau đây viết tắt là: Ủy ban) đã thông qua một “Chương trình hành động về việc xây dựng một luật hợp đồng Châu Âu đồng bộ hơn”[2]. 

Ủy ban tham vọng thông qua chương trình hành động này sẽ xây dựng được một Bộ quy tắc tham khảo chung (common frame of reference) dự kiến soạn thảo xong trong năm 2007 làm cơ sở để tiếp đó ban hành được một Bộ quy tắc hợp đồng trong năm 2009. Bộ quy tắc hợp đồng đó sẽ là viên đá tảng đầu tiên của luật hợp đồng chung Châu Âu. Ủy ban hy vọng nó sẽ không chỉ giúp đảm bảo sự vận hành thông suốt của Thị trường chung Châu Âu, mà còn có thể được sử dụng rộng rãi trong quan hệ hợp đồng quốc tế ngoài phạm vi Liên minh Châu Âu. Qua đó luật hợp đồng Châu Âu cũng có khả năng ảnh hưởng đến sự phát triển của pháp luật hợp đồng ở các quốc gia khác trên thế giới, tác động tích cực tới các nỗ lực dài hạn nhằm tiến tới một luật hợp đồng toàn cầu.

Bài viết nhằm cung cấp thông tin cho các định hướng nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu lập pháp nói riêng trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng. Các thông tin này hướng tới các chuyên gia luật dân sự, kinh tế cũng như sinh viên đại học, cao học quan tâm tới lĩnh vực pháp luật hợp đồng. Các trình bày về diễn biến thực hiện dự án này cũng cung cấp thông tin về cách thức mà các quốc gia đặt vấn đề và xúc tiến một dự án pháp luật như thế nào.

I. SỰ KHỞI XƯỚNG

1. Một quá trình thảo luận về cách thức giải quyết trên bình diện Liên minh các vấn đề phát sinh từ sự khác biệt trong luật hợp đồng của các quốc gia thành viên đã được Ủy ban chính thức khởi xướng vào tháng 7/2001.[3] Qua đó Ủy ban mong muốn có được thông tin phản hồi về nhu cầu đòi hỏi Liên minh tiến hành các biện pháp có tính chất sâu rộng hơn trong lĩnh vực luật hợp đồng.

2. Các vấn đề được đặt ra để thảo luận là sự khác biệt trong luật hợp đồng của các quốc gia thành viên về giao kết, giải thích hay áp dụng các loại hợp đồng có yếu tố liên quốc gia có cản trở sự vận hành thông suốt của Thị trường chung hay không? Sự khác biệt đó có dẫn đến hệ quả là các chủ thể hoạt động kinh tế né tránh xác lập các loại hợp đồng như vậy, hay làm tăng các chi phí cho giao dịch có yếu tố liên quốc gia hay không? Chủ trương hài hòa luật hợp đồng theo từng lĩnh vực[4] mà Liên minh theo đuổi từ trước đến nay có dẫn đến sự thiếu đồng bộ hoặc các bất cập khác do thiếu tính thống nhất trong việc nội luật hóa luật Liên minh và sự áp dụng không thống nhất nội luật đó hay không?

3. Ủy ban cũng quan tâm đến ý kiến phản hồi về việc các vấn đề phát sinh như vậy cần được giải quyết như thế nào? Để tạo cơ sở cho việc thảo luận về vấn đề này, Ủy ban nêu ra hình dung của mình về bốn hay phương án có thể xem xét như sau: phương án I là “để thị trường tự giải quyết các vấn đề được phát hiện”, phương án II là “ủng hộ việc xây dựng các nguyên tắc chung về luật hợp đồng làm cơ sở để các hệ thống luật pháp quốc gia xích lại gần nhau”, phương án III là “nâng cao chất lượng của các văn bản pháp luật đang có hiệu lực” và phương án IV là “ban hành các văn bản pháp luật mới và toàn diện trên bình diện Liên minh”.

4. Sau đó các cơ quan khác của Liên minh đều có ý kiến phản hồi Thông báo này. Trong đó Nghị viện Châu Âu (sau đây viết tắt là: Nghị viện) cho rằng, luật dân sự và thương mại của các quốc gia thành viên cần được xích lại gần nhau hơn[5]. Hội đồng Liên minh Châu Âu (sau đây viết tắt là: Hội đồng) thì cho rằng, sau quá trình thảo luận Ủy ban cần đưa ra được các kiến nghị về việc thực hiện,[6] có thể dưới hình thức một “sách trắng” (white paper) hoặc “sách xanh” (green paper)[7]. Còn Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Âu (Economic and Social Committee) lại nhấn mạnh rằng, trong lĩnh vực luật hợp đồng cần phải tìm kiếm các giải pháp trên phạm vi toàn cầu. Nhưng chừng nào chưa có các giải pháp như vậy thì cần phải ưu tiên việc soạn thảo một luật hợp đồng Châu Âu chung thống nhất, có thể ban hành dưới hình thức một nghị định (regulation). Có thể ban đầu luật hợp đồng này là luật tự nguyện, nghĩa là một trong các luật mà các bên tham gia hợp đồng có thể lựa chọn áp dụng cho quan hệ hợp đồng của họ (gọi là “giải pháp chọn thì áp dụng” [opt-in solution]), sau đó nó có thể được phát triển thành một công cụ pháp lý áp dụng đương nhiên, nếu các bên hợp đồng không chọn áp dụng một luật quốc gia nào đó (gọi là “giải pháp loại trừ thì không áp dụng” [opt-out solution]).[8]

5. Ngoài các ý kiến phản hồi của các cơ quan Liên minh, quá trình thảo luận này còn nhận được sự hưởng ứng rộng rãi từ nhiều phía. Tính đến thời điểm thông qua chương trình hành động vào tháng 2/2003 sau đó, Ủy ban đã nhận được tổng cộng 181 ý kiến phản hồi của 15 chính chủ, 47 hiệp hội kinh tế (công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ tài chính, truyền thông và các ngành nghề khác), 4 hiệp hội người tiêu dùng, 27 cá nhân và tổ chức nghề luật, 88 chuyên gia giảng dạy và nghiên cứu. Trong đó các ý kiến phản hồi đến nhiều nhất từ Đức (47) và Vương quốc Anh (27). Ủy ban đặc biệt coi trọng giá trị của tính minh bạch và đã đăng tải tất cả các ý kiến góp ý trên trang web của mình[9] (với sự đồng ý của các tác giả). Trang web này cũng được sử dụng làm diễn đàn để đăng tải bản phân tích tổng hợp các ý kiến phản hồi được thường xuyên cập nhật.

6. Trong các ý kiến phản hồi, không ai cho rằng bản thân chủ trương hài hòa pháp luật theo từng lĩnh vực mà Liên minh tiến hành từ trước tới nay làm phát sinh các rào cản mới hoặc cần phải từ bỏ cách thức làm luật này. Họ đều nêu quan điểm về từng phương án mà Ủy ban nêu ra. Trong đó chỉ một thiểu số nhỏ ủng hộ phương án I là “để thị trường tự giải quyết các vấn đề được phát hiện”. Có khá nhiều ý kiến ủng hộ phương án II, theo đó trên cơ sở các hoạt động nghiên cứu chung cần xây dựng nên các nguyên tắc chung cho luật hợp đồng Châu Âu. Một đa số lớn ủng hộ phương án III là hoàn thiện pháp luật hợp đồng Châu Âu hiện hành. Một đa số phản đối phương án IV là ban hành các văn bản pháp luật mới về luật hợp đồng Châu Âu; nhưng trong nhiều bản đóng góp ý kiến lại cũng có nêu quan điểm rằng phương án này cũng có thể được xem xét lại, tùy thuộc vào sự phát triển của tình hình khi thực hiện phương án II và III.

7. Sự quan tâm sâu rộng từ các phía cũng như hàng loạt các công trình khoa học về đề tài này cho thấy các ý tưởng nêu trong Thông báo của Ủy ban “được gieo trên mảnh đất màu mỡ”. Bởi vậy Ủy ban nhìn nhận điều đó như là được giao trách nhiệm tiếp tục xúc tiến các công việc mà mình đã khởi xướng. Và kết quả của quá trình thảo luận này là cơ sở của chương trình hành động được đề ra tiếp đó.

II. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

1. Với thông báo tới Nghị viện và Hội đồng ngày 12/2/2003, Ủy ban đã công bố một “Chương trình hành động về việc xây dựng một luật hợp đồng Châu Âu đồng bộ hơn”[10].

2. Bản thông báo này tóm tắt quá trình thảo luận, nêu ra hai vấn đề lớn xác định được trong quá trình thảo luận là vấn đề áp dụng thống nhất luật Liên minh và tác động của nó tới Thị trường chung, cũng như đề ra chủ trương kết hợp các biện pháp lập pháp và ngoài lập pháp gồm: (1) nâng cao chất lượng pháp luật hợp đồng của Liên minh, (2) khuyến khích việc soạn thảo các “bộ điều khoản hợp đồng chuẩn” (hay còn gọi là “điều kiện thương mại chung”) sử dụng trên toàn Liên minh và (3) tiếp tục nghiên cứu về tính hợp lý và hữu ích của các biện pháp chung không chuyên biệt lĩnh vực (non-sector specific measures) - ví dụ như một “Bộ quy tắc hợp đồng”[11] - trong luật hợp đồng Châu Âu.

3. Chương trình hành động này nhằm tìm kiếm ý kiến phản hồi đối với chủ trương kết hợp các biện pháp lập pháp và ngoài lập pháp mà Ủy ban đề ra, là các biện pháp nhằm tăng cường tính đồng bộ của pháp luật Liên minh hiện hành trong lĩnh vực luật hợp đồng, khuyến khích việc soạn thảo các điều khoản hợp đồng chuẩn áp dụng trên toàn Liên minh, cũng như xem xét xem các biện pháp chung không chuyên biệt lĩnh vực, ví dụ như xây dựng một “Bộ quy tắc hợp đồng” là có cần thiết để giải quyết các vấn đề trong luật hợp đồng Châu Âu hay không? Như vậy, kế hoạch hành động này là bước kế tiếp của quá trình thảo luận về sự phát triển của luật hợp đồng Châu Âu.

4. Ủy ban dự kiến “sản phẩm” của chương trình hành động này là một Bộ quy tắc tham khảo chung (common frame of reference) dự kiến soạn thảo xong trong năm 2007. Bộ quy tắc tham khảo chung này cần thực hiện được các chức năng như sau:

Thứ nhất, Bộ quy tắc tham khảo chung tạo được cơ sở để Ủy ban làm căn cứ khi sửa đổi, bổ sung luật hiện hành hoặc soạn thảo các sáng kiến luật mới trong lĩnh vực luật hợp đồng. Bởi vậy, nó cần đưa ra được các giải pháp tốt nhất về các thuật ngữ và quy tắc chung (như về định nghĩa các khái niệm cơ bản và các thuật ngữ trừu tượng như “hợp đồng” hay “thiệt hại”) và về các quy định áp dụng cho trường hợp không thực hiện hợp đồng. Tự do hợp đồng phải là nguyên tắc xuyên suốt; chỉ được hạn chế tự do hợp đồng nếu có các lý do chính đáng để làm điều đó. Đứng đằng sau đó là ý muốn xây dựng được các quy định đồng bộ trong lĩnh vực luật hợp đồng Châu Âu trên nền tảng các nguyên tắc chung và một hệ thống khái niệm thống nhất.

Thứ hai, Bộ quy tắc tham khảo chung tạo cơ sở để luật hợp đồng của các quốc gia thành viên và có thể của cả một số nước thứ ba xích lại gần nhau hơn.

Thứ ba, Bộ quy tắc tham khảo chung tạo cơ sở để Ủy ban căn cứ khi xem xét việc xây dựng một Bộ quy tắc hợp đồng chung (không chuyên biệt lĩnh vực) để giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực luật hợp đồng Châu Âu là có cần thiết hay không.

5. Để đảm bảo rằng, Bộ quy tắc tham khảo chung đáp ứng được các nhu cầu của các chủ thể hoạt động kinh tế và có thể đưa ra được một mô hình cho các quy định trong luật hợp đồng, Ủy ban đã chủ trương đài thọ cho các nghiên cứu sâu rộng về lĩnh vực này. Các nghiên cứu cần tập trung vào các vấn đề được bàn luận trong chương trình hành động cũng như trong Bản thông báo về luật hợp đồng Châu Âu.[12] Ủy ban đã ra một thông báo “kêu gọi sự biểu thị mối quan tâm về việc thiết lập một mạng lưới chuyên gia quan tâm đến Bộ quy tắc tham khảo chung về luật hợp đồng Châu Âu (CFR-Net).[13] Tính đến 31/3/2006 đã có 200 chuyên gia từ các quốc gia thành viên tham gia CFR-Net. Mạng lưới hoạt động theo quy chế do Ủy ban ban hành. CFR-Net sẽ cung cấp các tư liệu đầu vào phục vụ cho công việc nghiên cứu và là động lực chính trong việc soạn thảo Bộ quy tắc tham khảo chung.

III. BỘ QUY TẮC THAM KHẢO CHUNG

1. Trong chương trình hành động, Ủy ban khẳng định nội dung Bộ quy tắc tham khảo chung sẽ được xác định trên cơ sở kết quả của các nghiên cứu và ý kiến phản hồi của các chủ thể hoạt động kinh tế, nhưng cũng gợi ý rằng nó có thể bao gồm: (i) Luật hợp đồng, đặc biệt về các loại hợp đồng có vai trò quan trọng trong quan hệ thương mại có yếu tố liên quốc gia, như hợp đồng mua bán và hợp đồng dịch vụ, (ii) các quy định chung về giao kết, hiệu lực và giải thích hợp đồng cũng như về thực hiện, không thực hiện và các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ đó, (iii) đồng thời cả các quy định về thế chấp tài sản là động sản và luật về hưởng lợi không có căn cứ pháp luật. Các nghiên cứu cần xem xét các nguồn luật như các hệ thống pháp luật quốc gia hiện hành, quan điểm tài phán của các tòa án quốc gia cũng như thực tiễn hợp đồng để tìm ra các điểm chung, phát triển các nguyên tắc chung và tìm kiếm được các giải pháp tốt nhất. Luật hiện hành của Liên minh cũng như các công cụ pháp lý có hiệu lực áp dụng liên quan, đặc biệt là Công ước của Liên hiệp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế ngày 11/4/1980 (CISG), cũng cần được phân tích.

2. Sau khi chương trình hành động được Ủy ban công bố, ngày 2/9/2003 và ngày 22/9/2003 Nghị viện và Hội đồng đã lần lượt thông qua nghị quyết về vấn đề này. Đến thời điểm 31/3/2004 Ủy ban còn nhận được tổng cộng 122 ý kiến phản hồi của 10 chính phủ, 29 hiệp hội kinh tế, 4 hiệp hội người tiêu dùng, 19 cá nhân và tổ chức nghề luật, 57 chuyên gia giảng dạy và nghiên cứu. Quan điểm của các cơ quan Liên minh cũng như các ý kiến phản hồi được nhóm công tác của Ủy ban tổng hợp và công bố trên trang web nói trên.[14]

3. Bên cạnh việc ủng hộ trên nguyên tắc sáng kiến của Ủy ban, Hội đồng còn nhấn mạnh rằng, cần đảm bảo sự đồng bộ giữa các biện pháp mà chương trình hành động hướng tới với Sách xanh về việc chuyển hóa và hiện đại hóa Công ước Rome năm 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng[15] và với CISG. Còn Nghị viện thì khuyến nghị hãy phát triển Bộ quy tắc tham khảo chung này thành một “Bộ điều khoản hợp đồng chuẩn” có thể áp dụng trong thực tiễn hợp đồng, xây dựng một luật hợp đồng trên cở sở Bộ quy tắc tham khảo chung đó, và ban đầu với giải pháp “chọn thì áp dụng” (opt-in), sau một thời gian có thể bắt buộc áp dụng. Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng ủng hộ chương trình này và khuyến khích Ủy ban tiếp tục theo đuổi sáng kiến của mình.[16] Về cấu trúc và nội dung của Bộ quy tắc tham khảo chung, ECB cho rằng cần định nghĩa các khái niệm như “hợp đồng”, “thiệt hại”, “sự kiện bất khả kháng” hay “phương tiện thanh toán luật định” cũng như quy định chung về lãi suất quá hạn đối với các trường hợp chậm thanh toán. ECB cũng khuyến khích việc soạn thảo các điều khoản hợp đồng chuẩn áp dụng trên toàn liên minh (EU-wide standard contract terms) trong điều kiện chưa có sự hài hòa hóa pháp luật các quốc gia thành viên, nhưng cũng đồng thời nhấn mạnh rằng điều đó không được làm tổn hại đến nguyên tắc tự do hợp đồng.

4. Đa số ý kiến từ các chính phủ và nhóm lợi ích (các hiệp hội kinh tế, các hiệp hội người tiêu dùng, các cá nhân và tổ chức nghề luật cũng như của các chuyên gia giảng dạy và nghiên cứu) ủng hộ việc xây dựng một Bộ quy tắc tham khảo chung vì điều đó có khả năng tạo thuận lợi cho việc áp dụng luật Liên minh một cách thống nhất và sự vận hành thông suốt của Thị trường chung. Nhưng cũng có một số ý kiến từ nhóm nghề luật hoài nghi về tính cần thiết của một Bộ quy tắc tham khảo chung như vậy; họ cho rằng nó sẽ không giúp vượt qua được các cản trở chính hiện nay như sự khác biệt về ngôn ngữ, truyền thống văn hóa cũng như sự giải thích luật khác nhau ở các quốc gia thành viên. Đặc biệt, hầu hết các ý kiến của nhóm nghề luật từ Anh quốc cho rằng tốt nhất là tập trung tìm ra những lĩnh vực điều chỉnh có vấn đề nhất và tìm cách xóa bỏ những bất cập trong các lĩnh vực đó bằng các biện pháp chuyên biệt.

Về nội dung và cấu trúc của Bộ quy tắc tham khảo chung thì các ý kiến lại rất đa dạng: Hầu hết các chính phủ, đặc biệt là chính phủ CHLB Đức, nhiều hiệp hội kinh tế, hiệp hội người tiêu dùng, cá nhân, tổ chức hành nghề luật và các chuyên gia giảng dạy và nghiên cứu ủng hộ phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm các vấn đề giao kết, hiệu lực, giải thích hợp đồng, vi phạm hợp đồng cũng như một số loại hợp đồng cụ thể như hợp đồng mua bán, dịch vụ, bảo hiểm. Trong đó có ý kiến đi xa hơn là cần xem xét cả sự tác động của luật hợp đồng này đối với các lĩnh vực khác như luật công ty, luật sở hữu, luật nghĩa vụ ngoài hợp đồng, luật gia đình và luật thừa kế. Thậm chí có ý kiến cho rằng Bộ quy tắc tham khảo chung này không nên chỉ là sự đồng bộ hóa luật hợp đồng hiện hành mà phải là một hệ thống các quy phạm pháp luật tương tự như một bộ luật dân sự của các quốc gia. Nhưng tất cả đều thống nhất rằng, Bộ quy tắc tham khảo chung phải bắt nguồn hoặc có sự tham khảo từ các hệ thống luật quốc qua, luật Liên minh và luật quốc tế như CISG, hay bộ nguyên tắc hợp đồng UNIDROIT, bộ tập quán thương mại quốc tế Incoterms.

5. Về việc khuyến khích xây dựng các “bộ điều khoản hợp đồng chuẩn” áp dụng trên toàn Liên minh thì các nhóm ý kiến đều tỏ ra thận trọng hơn. Một số chính phủ ủng hộ, môt số khác ủng hộ có điều kiện, một số khác lại hoài nghi về tính hữu ích hoặc phản đối điều này. Đa số ý kiến từ các hiệp hội kinh tế, từ các cá nhân và nghề luật lại hoài nghi về khả năng tháo gỡ các rào cản thương mại và giảm chí phí của các bộ điều khoản hợp đồng chuẩn như vậy. Các hiệp hội người tiêu dùng thì đều nhấn mạnh các bộ điều khoản hợp đồng chuẩn như vậy đều phải xuất phát từ mức độ bảo vệ người tiêu dùng cao nhất. Còn các nhà nghiên cứu và giảng dạy tỏ ra không mặn mà với mục tiêu này, đặc biệt họ hoài nghi về tính hữu ích cũng như khả năng bảo vệ người tiêu dùng của các bộ điều khoản hợp đồng chuẩn như vậy. Nhưng cho dù ủng hộ, ủng hộ có điều kiện, hoài nghi hay phản đối mục tiêu này, thì các ý kiến phản hồi đều cho rằng nó không được xâm phạm nguyên tắc tự do hợp đồng, nghĩa là các bộ thỏa thuận hợp đồng như vậy đều không có tính bắt buộc.

6. Về việc nghiên cứu tính cần thiết của các biện pháp không chuyên biệt lĩnh vực như một Bộ quy tắc hợp đồng thì các ý kiến phản hồi cũng rất đa dạng, từ sự phản đối, ủng hộ dè dặt đến sự ủng hộ những biện pháp sâu rộng hơn. Các quan điểm về vấn đề này được trình bày trong mục tiếp theo đây.

IV. BỘ QUY TẮC HỢP ĐỒNG

1. Về công cụ pháp lý này Ủy ban đề nghị các ý kiến phản hồi đề cập đến các vấn đề như: (i) tính cần thiết, (ii) phạm vi điều chỉnh, (iii) hiệu lực áp dụng và (iv) mối quan hệ của nó với Công ước về mua bán hàng hóa quốc tế của Liên Hiệp Quốc.

2. Các quan điểm về tính cần thiết của một công cụ pháp lý như vậy rất khác nhau. Đa số các chính phủ ủng hộ một cách có điều kiện, thông thường họ cho rằng cần chờ đợi kết quả thực hiện các mục tiêu thứ nhất và thứ hai. Một số chính phủ bày tỏ sự ủng hộ rõ ràng như chính phủ Đức, Hungary, Bồ Đào Nha. Ngược lại chính phủ Vương quốc Anh và Pháp phản đối việc xây dựng một công cụ về luật hợp đồng như vậy. Phần lớn các ý kiến phản hồi từ các hiệp hội kinh tế, người tiêu dùng và các cá nhân, tổ chức nghề luật lại tỏ ra hoài nghi về tính hữu ích, tính khả thi của biện pháp này. Ngược lại, điều đó lại được sự ủng hộ rộng rãi từ giới nghiên cứu và giảng dạy. Nhưng một số ý kiến trong đó lại cho rằng lúc này còn quá sớm để xây dựng một công cụ pháp lý như vậy. Mặt khác lại có nhiều ý kiến cho rằng, chủ trương của Ủy ban là thiếu mạnh dạn; họ cho rằng, cần tiến tới xây dựng một Bộ luật hợp đồng Châu Âu. Một số ý kiến đi xa hơn, ủng hộ việc xây dựng một Bộ luật dân sự Châu Âu. Tuy nhiên, một quan điểm phê phán cho rằng, trước hết cần nghiên cứu phân tích các yếu điểm của hệ thống pháp luật hiện hành rồi mới quyết định có lựa chọn con đường đó hay không. Quan điểm này nêu ra một số yếu tố cản trở việc xây dựng và áp dụng một công cụ pháp lý như vậy như sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa cũng như sự khác biệt giữa hệ thống dân luật và thông luật.

3. Về phạm vi điều chỉnh của Bộ quy tắc hợp đồng các quan điểm cũng phân tán. Đa số các quan điểm ủng hộ cũng đồng thời đề nghị một phạm vi điều chỉnh rộng. Phạm vi điều chỉnh rộng nhất được kiến nghị bao gồm toàn bộ luật hợp đồng và những lĩnh vực có tác động tới luật hợp đồng như bảo đảm, hưởng lợi không có căn cứ pháp luật. Nhiều quan điểm cho rằng một công cụ pháp lý tốt phải có phạm vi điều chỉnh bao trùm, bao gồm toàn bộ các quan hệ hợp đồng liên quốc gia và hợp đồng trong nước, hợp đồng giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với người tiêu dùng và giữa người tiêu dùng với nhau. Nhưng một số quan điểm khác cho rằng chỉ nên điều chỉnh quan hệ hợp đồng có yếu tố liên quốc gia mà thôi.

4. Về hình thức pháp lý, đa số ý kiến ủng hộ việc ban hành Bộ quy tắc hợp đồng dưới dạng nghị định (regulation), một số ý kiến khác cho rằng nên ban hành dưới dạng chỉ thị (directive), hay luật mẫu hoặc các hình thức không ràng buộc tương tự. Về hiệu lực áp dụng, các quan điểm xoay quanh hai khả năng: “chọn thì áp dụng” (opt-in) hay “loại trừ thì không áp dụng” (opt-out). Đa số tuyệt đối ủng hộ giải pháp “chọn thì áp dụng”; trong đó đa số cho rằng sau một thời gian áp dụng có thể tiến tới giải pháp “loại trừ thì không áp dụng”. Các quan điểm ủng hộ một Luật Hợp đồng Châu Âu hoặc thậm chí Bộ luật Dân sự Châu Âu còn tính đến hiệu lực áp dụng bắt buộc trong tương lai.

5. Tất cả các ý kiến đều thống nhất rằng, việc xây dựng một Bộ quy tắc hợp đồng như vậy phải tính đến mối quan hệ với các công cụ pháp lý khác, đặc biệt là CISG. Đa số ý kiến cho rằng nên tiếp nhận và bổ sung các quy định của CISG vì CISG có hiệu lực ở hầu hết các nước thành viên và các quy định của nó cũng phù hợp thực tiễn hợp đồng quốc tế. Ngược lại, cũng có vài ý kiến cho rằng không nên tiếp nhận các quy định của CISG, vì nó không có hiệu lực ở tất cả các quốc gia của Liên minh, không được thiết kế cho thực tiễn Châu Âu và ngoài ra có phạm vi điều chỉnh hẹp.

V. CÁC BƯỚC TIẾP THEO

1. Ngày 11/10/2004 Ủy ban đã ra một bản thông báo tới Nghị viện và Hội đồng[17], trong đó đề ra các biện pháp tiếp theo trên cơ sở tiếp thu các ý kiến phản hồi từ các cơ quan của Liên minh, của các quốc gia thành viên và của các nhóm lợi ích đối với Chương trình hành động. Trong đó Ủy ban cho thấy rõ quyết tâm tiếp tục thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, đồng thời đưa ra được các định hướng rõ ràng hơn cho một Bộ quy tắc tham khảo chung. Theo đó, Bộ quy tắc chung sẽ làm cơ sở cho các sáng kiến lập pháp của Ủy ban nhằm đổi mới và phát triển luật Liên minh. Dự kiến Bộ quy tắc được cấu thành từ 3 phần: (I) các nguyên tắc cơ bản của luật hợp đồng, (II) định nghĩa các khái niệm pháp lý trừu tượng quan trọng nhất và (III) các quy định mẫu về luật hợp đồng.

2. Phần các nguyên tắc cơ bản sẽ chứa đựng các nguyên tắc chung quan trọng nhất của luật hợp đồng, cũng như các ngoại lệ được áp dụng trong giới hạn hẹp, đặc biệt nhằm bảo vệ bên yếu thế hơn trong quan hệ hợp đồng. Ví dụ như nguyên tắc tự do hợp đồng với ngoại lệ áp dụng các quy định bắt buộc, hay nguyên tắc ràng buộc hợp đồng với ngoại lệ hủy bỏ hợp đồng, hay nguyên tắc trung thực và thiện chí.

3. Phần thứ hai sẽ gồm định nghĩa các khái niệm trừu tượng của luật hợp đồng, nhất là các khái niệm có ý nghĩa đối với pháp luật Liên minh. Ví dụ như định nghĩa khái niệm hợp đồng và khái niệm thiệt hại; trong phạm vi khái niệm hợp đồng cũng có thể đồng thời giải thích khi nào hợp đồng được xem là đã giao kết.

4. Phần các quy định mẫu sẽ bao gồm các quy định chung về hợp đồng, nghĩa vụ trước hợp đồng, thực hiện và không thực hiện hợp đồng, hợp đồng nhiều bên, chuyển giao quyền yêu cầu, tiếp nhận nợ và tiếp nhận hợp đồng, thời hiệu khởi kiện, các quy định riêng về hợp đồng mua bán, hợp đồng bảo hiểm. Các quy định chung về hợp đồng có thể bao gồm các quy định về giao kết, hình thức, đại diện, hiệu lực và giải thích hợp đồng. Bộ quy tắc cũng sẽ quy định về bản chất nghĩa vụ trước hợp đồng cũng như các nghĩa vụ thông tin trước hợp đồng. Các quy định về thực hiện hợp đồng sẽ đề cập các vấn đề như địa điểm và thời điểm thực hiện, thực hiện bởi người thứ ba, thời điểm và địa điểm giao hàng, chi phí thực hiện, không thực hiện hợp đồng cũng như các căn cứ trách nhiệm. Về hợp đồng nhiều bên sẽ được đề cập đến trường hợp nhiều chủ nợ và nhiều con nợ. Quy định về chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm các nguyên tắc chung về khả năng chuyển giao, chuyển giao một phần và hình thức chuyển giao, hậu quả pháp lý trong quan hệ giữa người thế quyền và người chuyển giao quyền yêu cầu, giữa người thế quyền và con nợ. Bộ quy tắc cũng quy định về vấn đề tiếp nhận nợ, chuyển giao hợp đồng và về thời hiệu. Ủy ban cũng dự kiến đưa vào Bộ quy tắc các quy định riêng về hợp đồng mua bán  hợp đồng bảo hiểm.

5. Trong bản thông báo này Ủy ban cũng đề cập một lần nữa và cụ thể hơn quan điểm của mình về tính cần thiết, hiệu lực và hình thức pháp lý, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của một Bộ quy tắc hợp đồng trong tương lai. Theo đó, nội dung của Bộ quy tắc tham khảo chung có thể sẽ là cơ sở cho việc thảo luận về nội dung của Bộ quy tắc hợp đồng. Ở điểm này Ủy ban nhận được sự đồng tình của đa số các nhóm lợi ích, mặc dù vấn đề phạm vi điều chỉnh của Bộ quy tắc hợp đồng có bao trùm toàn bộ hay chỉ một phần nội dung của Bộ quy tắc tham khảo chung vẫn được để ngỏ.

6. Công việc soạn thảo Bộ quy tắc chung tiếp tục được tích cực thực hiện bởi Ủy ban thông qua các chuyên gia của CFR-net. Báo cáo tiến độ hàng năm đầu tiên của Ủy ban[18] cho thấy công việc đang tiến triển tốt. Dự kiến bản thảo Bộ quy tắc tham khảo chung đầu tiên sẽ được Ủy ban đưa ra thảo luận vào đầu năm 2007.

VI. NHẬN ĐỊNH

1. Dự án trên đây của Liên minh một mặt thể hiện nhu cầu bức thiết của sự phát triển kinh tế trong khối Thị trường chung Châu Âu, cho thấy sự khác biệt trong pháp luật dân sự nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng là một trong những nhân tố quan trọng cản trở sự vận hành thông suốt của Thị trường chung đó. Các cố gắng lập pháp của Liên minh cho đến nay không đủ khả năng loại bỏ các rào cản này. Mặt khác, quá trình thực hiện cho đến nay thể hiện đây là dự án đầy khó khăn bởi chính sự khác biệt trong truyền thống pháp luật, văn hóa và ngôn ngữ. Nhưng dự án đã được khởi động và tiến triển với sự tham gia, ủng hộ nhiệt huyết của các cơ quan Liên minh, các chính phủ và các nhóm lợi ích khác nhau.

2. Nếu dự án này thành công, nó sẽ không chỉ tác động tới khu vực Liên minh Châu Âu mà còn có tác dụng thúc đẩy tiến trình hài hòa và thống nhất pháp luật hợp đồng trên bình diện toàn cầu, trong đó CISG đã đặt một viên đá tảng quan trọng. Bộ quy tắc tham khảo chung về luật hợp đồng của Liên minh Châu Âu và tiếp đó có thể là Bộ quy định về hợp đồng sẽ giúp tiến gần hơn đến mục tiêu này.

3. Công tác nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật hợp đồng Việt Nam cũng bởi vậy mà cần theo dõi diễn biến và kết quả thực hiện dự án này, bởi vì đây là lĩnh vực pháp luật cần được “hội nhập” và có khả năng hội nhập cao.

 PHAN HUY HỒNG  TS. Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Nguồn: Tạp chí Khoa học Pháp lý 


[1] Communication from the Commission to the Council and the European Parliament on European Contract Law, COM (2001) 398 final, 11.7.2001 (OJ C 255, 13.9.2001, p. 1).

[2] Communication from the Commission to the European Parliament and the Council on a more coherent european contract law - An action plan, COM(2003) 68 final, 12.2.2003 (OJ C 63/1)

[3] Xem chú thích 1.

[4] Cho đến nay, riêng trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng các cơ quan của Liên minh Châu Âu đã ban hành 8 chỉ thị nhằm hài hòa pháp luật của các quốc gia thành viên, gồm các Chỉ thị số 85/577/EEC, 90/314/EEC, 93/13/EEC, 94/47/EC, 97/7/EC, 98/6/EC, 98/27/EC và 99/41/EC.

[5] Xem: Resolution on the approximation of the civil and commercial law of the Member States, OJ C 140 E, 13.6.2002, p. 538

[6] Xem: Report on the need to approximate Member States’ legislation in civil matters on 16 November 2001, http://register.consilium.eu.int/pdf/en/01/st12/12735en1.pdf

[7] Sách xanh (green paper) là loại văn bản bán chính thức làm cơ sở thảo luận về một vấn đề nào đó trong chính sách của Liên minh. Còn sách trắng (white paper) lại là loại văn bản chính thức về một số vấn đề nhất định, chứa đựng các kiến nghị cụ thể trong phạm vi một chương trình tổng thể.

[8] Xem: Opinion of the Economic and Social Committee on the Communication to the Council and the European Parliament on European contract law, OJ C 241, 7.10.2002, p. 1.

[9] http://europa.eu.int/comm/consumers/policy/developments/contract_law/index_de.html

[10] Xem chú thích 2.

[11] Hiện tại chưa có một tên riêng cho một văn bản pháp lý như vậy, mà mới được gọi chung là “optional instrument in the area of European contract law”.

[12] Tuy nhiên Nghị viện và Hội đồng còn yêu cầu nghiên cứu cả lĩnh vực luật vật quyền và luật trách nhiệm ngoài hợp đồng, nhằm khẳng định được rằng sự khác biệt trong pháp luật các quốc gia thành viên có cản trở sự vận hành thông suốt của Thị trường chung hay không. Bởi vậy Ủy ban đã công bố mời thầu thực hiện một nghiên cứu về vấn đề này (OJ S 154-122573,9/8/2002).

[13] OJ S 148, 31/07/2004

[14] Xem: Reaction to the action plan – a more coherent european contract law, http://europa.eu.int/comm/consumers/policy/developments/contract_law/index_de.html

[15] Convention on the law applicable to contractual obligations opened for signature in Romeon 19 June 1980 (80/934/EEC; OJ L 266, 9/10/1980, p. 1; consolidated version: OJ C 27,26/1/1998, p. 34).

[16] ECB còn cho rằng, Bộ quy tắc tham khảo chung về luật hợp đồng có thể trở thành nguồn cảm hứng khích lệ việc xây dựng một luật khung cho hệ thống tiền tệ Châu Âu. Qua đó hệ thống tiền tệ Châu Âu cũng có thể căn cứ vào một hệ thống các khái niệm được công nhận và điều đó dẫn đến sự giải thích và áp dụng thống nhất luật của Liên minh và của hệ thống tiền tệ Châu Âu.

[17] Communication from the Commission to the Council and the European Parliament on European contract law, 11.10.2004, COM (2004) 651, OJ C 14 20.1.2005, p. 6

[18] Report from the commission - First annual progress report on european contract law and the acquis review, 23/9/2005, COM(2005) 456 final

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Các tin tiếp
Các tin trước
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất