Mối quan hệ giữa Thư ký Toà án với Thẩm phán, Hội thẩm Toà án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác được hiểu là mối quan hệ của Thư ký với những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Đây là những mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở pháp luật tố tụng, chỉ phát sinh khi những cơ quan, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được xác lập trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời đây cũng là mối quan hệ phối hợp để đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, nhằm giải quyết vụ án đúng đắn.
Pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong hoạt động công chứng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng như: Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước ngày 27/02/1991 Hội đồng Bộ trưởng. Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Nghị định 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực ngày 18/5/1996 của Chính phủ. Luật công chứng ngày 29/11/2006 của Quốc hội.
Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra khái niệm cụ thể về hành vi đưa người di cư trái phép. Thuật ngữ này cũng chưa được sử dụng trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, theo cách hiểu của chúng tôi thì các tội liên quan tới đưa người di cư trái phép được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm các hành vi như: tổ chức hoặc cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép; xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, ở lại nước ngoài hoặc ở lại Việt Nam trái phép. Như vậy khái niệm đưa người di cư trái phép có phạm vi hẹp hơn so với các hành vi được hình sự hoá nêu trên của pháp luật Việt Nam.
Đối với hợp đồng thương mại quốc tế, khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, một trong những chế tài được áp dụng phổ biến là bồi thường thiệt hại (1). Luật Thương mại Việt Nam 1997 và 2005 đều dành điều khoản (Điều 229 Luật 1997 và Điều 320 Luật 2005) để quy định vấn đề này. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước CISG) cũng dành Mục II Chương 5 cho chế tài bồi thường thiệt hại.
Tội phạm hình sự nói chung và tội phạm trong hoạt động ngân hàng nói riêng đều là các hành vi nguy hiểm, xâm hại nghiêm trọng đến các quan hệ xã hội, chính sách kinh tế tài chính của Đảng, Nhà nước ta. Trong giai đoạn hiện nay, khi các ngân hàng đang trong thời kỳ cạnh tranh, mở rộng mạng lưới và tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ, tội phạm ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều và mức độ phạm tội ngày càng nguy hiểm hơn.
Nếu như tội “vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” quy định tại Điều 179 BLHS 1999 mà tác giả đã trình bày ở bài viết trước (xem Tạp chí Ngân hàng số 19 tháng 10/2009) mang đặc trưng pháp lý của các hành vi phạm tội liên quan trực tiếp đến hoạt động nghiệp vụ của CBNV ngân hàng thì “Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” quy định tại Điều 144 BLHS 1999 lại là tội mà trên thực tế các CBNV ngân hàng dễ bị xem xét và truy cứu trách nhiệm hình sự nhất, mặc dù điều luật đọc lên không có một từ ngữ nào liên quan đến cán bộ ngân hàng hay hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng.
Khác hoàn toàn với các điều luật liên quan đến tội phạm hình sự trong hoạt động ngân hàng đã nêu trong các bài viết trước đây, tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” trong hoạt động ngân hàng có những đặc trưng pháp lý rất dễ nhầm sang tội lừa đảo. Từ lừa đảo đến lạm dụng tín nhiệm có một khoảng cách pháp lý nhất định nhưng chúng ta lại cho là đồng nhất, xét ở góc độ ngân hàng thì hành vi chiếm đoạt tài sản đó là lừa đảo nhưng theo pháp luật thì chỉ là lạm dụng tín nhiệm.
Dự thảo Bộ luật Lao động (BLLĐ) sửa đổi đang được đưa ra lấy ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp. Sau 14 năm ban hành, đây là lần thứ 4 Bộ luật sẽ được sửa đổíi. Tuy nhiên, trong dự thảo sửa đổi lần này, một số điều khoản đã gây nhiều băn khoăn. Thậm chí, có ý kiến cho rằng dường như đã phá vỡ tính hệ thống, kết cấu và có nhiều vấn đề chưa phù hợp với thực tế.
Hợp đồng là kết quả của sự ưng thuận giữa các bên. Trong thực tế, không hiếm trường hợp sự ưng thuận này có «khiếm khuyết» và nhìn chung, pháp luật hợp đồng các nước đều dự liệu ba trường hợp «khiếm khuyết» cho phép tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Đó là nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa trong quá trình giao kết hợp đồng. Ở Việt Nam, vấn đề xử lý lừa dối hay đe dọa trong giao kết hợp đồng đã tồn tại khá sớm....
Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tài sản là công cụ của đời sống con người. Tuy nhiên, quan niệm pháp lý và quan niệm đời thường về tài sản lại có đôi chút khác biệt. Về mặt pháp lý, nhận thức đúng về tài sản và phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quy định pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý...
Xem theo ngày tháng  / /    Xem tiếp
TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất